DNQTĐ: Nguyễn Thiên Tích và Đào Cử

Nguyễn Thiên Tích - 阮 天 錫 (1400 - 1470) là nhà ngoại giao, danh thần nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Cuộc đời

Nguyễn Thiên Tích có tên tự là Huyền Khuê, người làng Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông thi đỗ khoa hoành từ năm 1431 đời Lê Thái Tổ. Nhờ có tài văn chương, ông được Lê Thái Tổ giao việc soạn văn bản giao thiệp với nước ngoài.

Thời Lê Thái Tông, ông kiêm chức Ngự tiền học sinh, làm Phó sứ sang Trung Quốc. Khi trở về ông được phong làm Thị ngự sử. Nhóm Trình Hoàng Bá, Lê Quốc Khí, Đinh Bang Bản, Nguyễn Tông Chí, Lê Đức Dư về phe với Tư đồ Lê Sát, khi Lê Thái Tổ còn sống đã gièm pha Phạm Văn Xảo và Trần Nguyên Hãn khiến Thái Tổ giết hai công thần này. Trước khi mất, Thái Tổ ân hận, dặn không được trọng dụng những người gièm pha đó. Nhưng Lê Sát muốn cất nhắc người cùng cánh nên ra sức tiến cử mấy người đó với Lê Thái Tông. Biết ý định này, Nguyễn Thiên Tích và Bùi Cầm Hổ ra sức can ngăn, khuyên vua nên theo lời di huấn của cha. Lê Thái Tông bèn bác lời tâu của Lê Sát, không trọng dụng những người này

Năm 1437, ông hạch tội người coi việc từ tụng là Trịnh Khắc Phục cố gỡ tội cho Lê Trung làm việc trái phép, nhưng Lê Thái Tông bỏ qua không xét. Ông bèn xin bãi chức, nhưng Lê Thái Tông không đồng ý, bảo ông cứ trở về làm nhiệm vụ cũ. Sau đó Nguyễn Thiên Tích lại hạch tội Lê Sát chuyên quyền. Kết quả Lê Sát bị bãi chức Tư đồ. Năm 1438, ông làm Phó sứ đi cống nhà Minh. Khi trở về được làm Thị độc Viện Hàn lâm. Lê Thái Tông qua đời mùa thu năm 1442. Mùa đông năm đó, ông vâng mệnh soạn văn bia Hựu Lăng (an táng Lê Thái Tông). Thời Lê Nhân Tông, ông được thăng làm Phó sứ viện Nội mật. Sau đó vì bị vu cáo nên bị mất chức, sau đó lại được cất nhắc làm Tri chế cáo Viện Hàn lâm.

Thời Lê Thánh Tông, ông được thăng làm Thượng thư Bộ Binh. Gặp việc gì ông đều thẳng thắn nói hết không giấu giếm, vì vậy được Thánh Tông khen giống như Vương Khuê và Ngụy Trưng nhà Đường. Một thời gian sau ông bị khiển trách, nhưng sau đó lại được phục chức và kiêm chức Tế tửu. Ông hoạt động trong khoảng hơn 30 năm, được đánh giá là người khẳng khái, được 4 đời vua trọng dụng, nhờ có khí tiết

Con đường

Tại Bắc Ninh: nối đường Tiên Du với Nguyễn Đăng Đạo – H. Tiên Du



Đào Cử (1449-?) là danh thần nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Cuộc đời

Đào Cử người xã Thuần Khang, huyện Siêu Loại - nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Năm 1466 đời Lê Thánh Tông, ông đỗ đồng tiến sĩ rồi đổi tên là Thuấn Cử. Năm sau (1467), ông đi thi đỗ khoa Hoành cừ, được gọi vào làm Độc thư ở Bí giám. Sau đó ông được thăng làm Thị chế Viện Hàn lâm, rồi Tri chế cáo.

Mùa hạ năm 1476, ông lên làm Thị thư viện Hàn lâm, Hiệu thư Đông các. Đào Cử theo Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành và Lão Qua. Nhờ chăm chỉ theo giúp việc, ông được thăng làm Thị độc Viện Hàn lâm, vẫn kiêm việc ở Đông các. Ông cùng Thân Nhân Trung theo lệnh vua Thánh Tông soạn bộ sách Nam dư hạ tập và Thân chinh kỷ sự.

Năm 1488, triều đình thực hiện xét công 3 năm 1 lần, ông được thăng lên làm học sĩ Đông các. Đào Cử có tài văn chương, thường họa thơ cùng vua, được Lê Thánh Tông quý trọng. Cuối đời, Đào Cử được thăng lên làm Thượng thư bộ Hộ, coi việc Sùng văn cục Tú lâm. Anh ông là Đào Chính Kỷ cũng đỗ hoàng giáp, cùng làm quan trong triều. Đào Cử mất thời Lê Hiến Tông (1498-1504), không rõ năm nào, thọ khoảng trên 50 tuổi.

Ông có để lại một tác phẩm là: Quang Thuận tứ niên Quý Mùi khoa tiến sĩ đề danh bi ký (Văn bia đề danh tiến sĩ khoa quý mùi niên hiệu Quang Thuận năm thứ 4 (1463)).

Con đường

Tại Vĩnh Phúc: nối đường Lê Ngọc Chinh với Nguyễn Tất Thành – tph. Vĩnh Yên

Tại tph. HCM: nối đường Lê Hùng Yên với Duyên Hải – Cần Giờ


Thiên Linh

Không có nhận xét nào:

©2015 - 2018 by Thiên Linh. Khi trích dẫn, vui lòng ghi rõ: "©JimmyKyo" hoặc "©ThiênLinh". Được tạo bởi Blogger.