DNQTĐ: Lương Đắc Bằng và Lương Hữu Khánh

Lương Đắc Bằng - 梁 得 朋 (1472 - 1522), là một nhà chính trị thời nhà Lê sơ, ông nổi bật với việc theo đại thần Nguyễn Văn Lang nổi quân ba phủ ở Thanh Hóa, đánh đổ triều vua Lê Uy Mục, lập nên vua Lê Tương Dực. Bằng khả năng văn chương của mình, ông thường được lệnh viết các bài hịch, chiếu, sắc của triều đình.

Cuộc đời

Lương Đắc Bằng là người làng Hội Trào (hoặc Hội Triều) (nay là xã Hoằng Phong, Hoằng Hoá, Thanh Hóa), lúc bé đã có tiếng thần đồng. Ông đỗ Bảng nhãn hay Hội nguyên ở kì thi Hội năm Kỷ Mùi 1499; rồi thi Đình đỗ Nhất giáp tiến sĩ, tên đứng thứ 2, khi ứng chế được xếp thứ nhất. Ra làm quan, được thăng đến chức Tả Thị Lang bộ Lễ, Thị độc viện hàn lâm coi việc ở viện.

Năm 1504, vua Hiến Tông chết, người con thứ lên làm vua, tức vua Lê Túc Tông, Lê Túc Tông chết sớm, người anh lên thay tức vua Lê Uy Mục. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Vua nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy. Năm 1509, vua Uy Mục đuổi những người tôn thất, công thần về Thanh Hóa, đại thần Nguyễn Văn Lang có trong số đó, ông đem quân ba phủ nổi quân ở Thanh Hóa, đón Giản tu công Lê Dinh làm minh chủ. Lê Đắc Bằng tham gia trong đó, Nguyễn Văn Lang bèn sai Lê Đắc Bằng soạn hịch kể tội vua Uy Mục. Nguyễn Văn Lang phát binh ra Thăng Long, vua Uy Mục thua trận, phải uống thuốc độc tự tự, năm ấy Lê Dinh lên ngôi, tức vua Lê Tương Dực. Sau khi lên ngôi vua dời thi hài mẹ mình về táng ở hương Mỹ Xá, huyện Ngự Thiên, dựng bia Huy Từ Trang Huệ Kiến Hoàng thái hậu. Sai Lương Đắc Bằng lúc ấy làm Lễ bộ tả thị lang Hàn lâm viện thị độc chưởng Hàn lâm viện sự soạn bi ký.

Năm 1510, vua Tương Dực phong thưởng cho các công thần, Lương Đắc Bằng được thăng làm Lại bộ Tả thị lang. Năm ấy vua khởi phục Lại bộ tả thị lang Lương Đắc Bằng kiêm Đông các học sĩ, nhập thị kinh diên nhưng Đắc Bằng cố từ chối không nhận. Nhân đó, Đức Bằng dâng lên 14 kế sách trị bình:
Hết sức cảnh giới để dẹp điềm tai dị
Hết lòng hiếu thảo để tỏ lòng trung.
Xa thanh sắc để làm gốc cho sự chính tâm.
Bỏ kẻ tà nịnh để trọng nguồn phong hóa.
Dè dặt việc cho quan tước để cẩn thận về việc khuyến trừng.
Tuyển bổ công bằng để đường làm quan được trong sạch.
Tiêu dùng phải dè dặt để giữ thói kiệm ước.
Khen người cho những người có tiết nghĩa để trọng đạo cương thường.
Cấm hối lộ để bỏ thói gian tham.
Sửa sang võ bị để thế nước được vững.
Kén chọn gián quan để cho người dám nói phấn khởi.
Bớt việc phục dịch để thỏa tình dân trông ngóng.
Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương
Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép là vua nghe theo; sách Lịch triều hiến chương loại chí viết vua khen ngợi và nhận lời.  

Ông làm quan đến Thượng thư bộ Lại, được Tham dự triều chính, tước Đôn trung bá. Hơn 50 tuổi thì chết, con ông là Lương Hữu Khánh, theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước đi thi theo nhà Mạc nhưng sau theo Trịnh Kiểm, làm đến Thượng thư, tước Đạt quận công

Con đường 

Tại Đà Nẵng: nối đường Quán Khải 9 với Lê Thành Phương – quận Ngũ Hành Sơn

Tại Khánh Hoà: nối đường Nguyễn Đức Thuận với Nguyễn Phong Sắc - TP. Nha Trang

Tại TP. HCM: nối đường kênh Tân Hoá với Luỹ Bán Bích - Q. Tân Phú



Lương Hữu Khánh (1520 - ?) sống vào khoảng thế kỷ 16, là Thượng thư Bộ Binh (có sách chép khác là Thượng thư Bộ Lễ), thời Lê Trung hưng, tước Đạt Quận Công, là nhà thơ, con của Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, người làng Hội Triều, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Cuộc đời

Lương Hữu Khánh có cha là quan lớn, nhưng thanh liêm nên nhà nghèo, lúc nhỏ ông phải đi cày mướn gặt thuê cho ruộng nhà khác hoặc làm văn bản mướn để có thể sinh sống. Sau này ông theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò cũ của cha mình, và được thầy học biệt đãi như con đẻ cho ở trong nhà. 

Ông đậu cử nhân năm 12 tuổi, đậu thứ 2 thi hội vì bị thiên vị nên ông bỏ, không thi đình dưới triều Mạc Ðăng Doanh mà trốn vào Thanh Hóa theo phò vua Lê. Có thuyết khác chép rằng ông đã yêu con gái lớn của Trạng Trình. Do cha của ông qua đời đã lâu, mẹ là vợ thiếp làm nghề buôn bán, sinh ông ở Thăng Long, chưa có ý kiến gì về việc hỏi vợ cho Lương Hữu Khánh ở nơi khác nên vợ chồng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tùy duyên mà gả con gái cho Phó Vệ úy Hầu tước Phạm Dao. Tiến sĩ Lương Hữu Khánh đã buồn rầu bỏ thi Đình của nhà Mạc để về quê cũ (Thanh Hóa) khởi nghiệp trung hưng nhà Lê.

Lương Hữu Khánh là nhân vật trọng yếu của triều đình nhà Lê, có công khôi phục và lập nên nhà Lê trung hưng. Ông đã cùng với chúa Trịnh Tùng, vị tiết chế đức độ, có tầm nhìn xa rộng, và Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, nhà quân sư tài danh và ngoại giao lỗi lạc, đã nối được chí hướng của thầy học Nguyễn Bỉnh Khiêm, lấy yêu dân và vận nước làm trọng, để nỗ lực tôn phù vua sáng, thay đổi được cục diện chiến tranh Lê-Mạc kéo dài.

Ông sáng tác nay chỉ còn lưu lại một số bài thơ, phú; đáng chú ý là bài thơ "Quan sử", dài 400 câu, về lịch sử của dân tộc từ Kinh Dương Vương đến Lê trung hưng.

Con đường

Tại Thanh Hoá: nối đường Âu Cơ với Võ Nguyên Giáp – TP. Thanh Hoá

Tại Đà Nẵng: nối đường Yết Kiêu với Lê Văn Lương (gần đường Hoàng Sa) – Q. Sơn Trà

Tại TP. HCM: đường Lê Lai với Nguyễn Thị Minh Khai – quận 1

 

Thiên Linh

Không có nhận xét nào:

©2015 - 2018 by Thiên Linh. Khi trích dẫn, vui lòng ghi rõ: "©JimmyKyo" hoặc "©ThiênLinh". Được tạo bởi Blogger.